Thứ Hai, 8 tháng 7, 2013

Sự giao thoa ngôn ngữ giữa các dân tộc ở Nam bộ

Sự giao thoa ngôn ngữ giữa các dân tộc ở Nam bộ

Nam bộ là một vùng đa văn hóa, là nơi cư trú xen kẽ của nhiều tộc người từ nhiều thế kỷ với một mối giao lưu văn hóa rộng rãi và lành mạnh.

Ngay từ cuối thế kỷ XVII, ở Nam bộ đã có nhiều cộng đồng dân tộc cùng sinh sống. Người Việt là dân tộc chủ chốt đã khai phá và đặt nền tảng quản lý hành chính, về phương diện quân sự cũng là lực lượng chủ chốt bảo vệ vùng đất Nam bộ.
Trong quá trình khai phá, không thể không tính đến sự có mặt của các dân tộc bản địa và những dân tộc di cư đến. Đó là các dân tộc Hoa, Khmer và Chăm.

Điều cần lưu ý đầu tiên là trong suốt tiến trình khai phá và phát triển của Nam bộ, các dân tộc đã cùng chung sống hòa bình và đáng kể hơn cả là sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc đã góp phần tạo cho vùng đất Nam bộ những nét văn hóa độc đáo. Ngay khi có nhiều tôn giáo lớn cùng hiện diện, giữa các dân tộc vẫn luôn giữ được tinh thần bao dung về mặt tín ngưỡng. Trên lĩnh vực ngôn ngữ, trong quá trình giao lưu, tiếng Việt đã dần dần trở thành tiếng nói chung bên cạnh hiện tượng song ngữ hay đa ngữ vẫn được coi là bình thường, còn hiện diện rải rác ở một số vùng cộng cư Việt - Khmer - Chăm, Việt - Hoa... Trong tiếng nói của người Việt đã có sự hiện diện của các tiếng dân tộc và ngược lại, chẳng hạn như các từ lì-xì, xính xái, xí mụi, thèo lèo, tài công, tằng khạo xuất phát từ tiếng Hoa; cà ràng, xà quầng, mình ên xuất phát từ tiếng Khmer... Trong sinh hoạt vật chất cũng vậy. Chiếc phảng, chiếc nóp, cà ràng của người Khmer đã được cải tiến trở thành thân thiết với người Việt đồng bằng. Chiếc áo bà ba của người Việt cũng thành quen thuộc với nhiều dân tộc. Ngôi nhà sàn là kiểu cư trú truyền thống của người Khmer nhưng người Việt, người Chăm cũng sử dụng. Nhiều món ăn vốn gốc từ một dân tộc, nhưng sau này đã được phổ biến rộng rãi. Đặc biệt, có vài trường hợp lễ hội của riêng một dân tộc cũng được các dân tộc anh em vui chung như Tết Nguyên đán, lễ đua ghe ngo...
Đặc biệt là về ngôn ngữ, do nơi đây từng diễn ra sự cộng cư, cộng canh, cộng tác giữa người Việt, người Khmer từ thế kỷ XVII đến nay nên phương ngữ Nam bộ có nhiều từ mượn tiếng Khmer. Cũng không ở đâu có nhiều từ mượn tiếng Hán theo giọng Quảng Đông, Triều Châu như ở đây. Bởi vì hơn ở đâu hết, trên nước Việt Nam, nhiều người Hoa vào đây từ cuối thế kỷ XVII trở đi để làm ăn sinh sống. Trong giao lưu, mua bán, người Việt đã tiếp nhận vào vốn từ ngữ của mình hàng trăm từ gốc Quảng Đông, Triều Châu. Người Hoa và văn hóa Hoa, trong sự giao hòa với người Việt và văn hóa Việt, là một mảng màu khá nổi trên vùng đất Nam bộ này.
* Những từ mượn có nguồn gốc Khmer
Những từ mượn có liên quan đến xã hội, phong tục người Khmer: cái xà-rông (sa-rông), cái cà-ràng, một loại bếp (âng kran), cái cần xé (canh chê), cái cù nèo (khveo), mắm bồ hóc (brô-hok), cà-ròn, bao bằng bàng (ca-rông), cà-om, một loại nồi đất (kơ-om), cái lọp để đánh cá (lop).
Những từ mượn có liên quan đến cảnh quan thiên nhiên: Cây thốt nốt (thnôt), bưng trong bưng biền (bâng), vàm (piam), cá linh (trây linh), cá chốt (trây cân-chôh), cá hô (trây hô), con cần đước (an-đơk), cây chùm ruột (căn tuôt), cây tầm vông (ping pông), trái cà na (kna).
Những từ mượn là địa danh gốc Khmer: Địa danh gốc Khmer còn được bảo tồn ở Nam bộ khá nhiều. Sau đây là một số dẫn chứng: Ba-thắc (tên cũ vùng đất ở miền sông Hậu và hữu ngạn sông Hậu), tiếng Khmer là prêk basak. Ô Môn (Srôk Ômô, nghĩa là xứ có nhiều cây ô môi).
* Những từ mượn có nguồn gốc Quảng Đông, Triều Châu
Nhiều nhất là tên những món ăn: bò pía (bảo bỉnh là loại bánh mỏng cuốn gói nhỏ với rau, tôm, thịt); dầu cháo quẩy (du chá quỹ); hủ tiếu (cốc điều); lục tàu xá (lục đậu sa, tức là chè đậu xanh); lẩu (lô); lạp xưởng (lạp trường); ngầu bín (ngưu bính là món dương vật bò nấu rục); tả pín lù (tạp bỉnh lô); thèo lèo (trà liệu).
Những từ thuộc về kinh doanh, giao tế như: chạp phô (tiệm bán tạp hóa); chánh hẩu (chính hiệu); tẩm quất (đản cốt); tứ chiếng (bốn hướng, dân tứ chiếng là dân bốn phương tụ lại).
Nhưng thú vị nhất có lẽ là sự hòa hợp ngôn ngữ giữa các dân tộc ở Nam bộ trên bình diện ca dao. Về phương diện này, mỗi dân tộc góp vào một tiếng nói của mình, làm cho ca dao Nam bộ đa dạng hơn, phong phú hơn và lạ hơn.
Gió đưa chú tửng từng tưng
Gặp chị bán gừng na nả nị ơi
Một câu ca dao với các từ láy “tửng từng tưng, na nả” ẩn chứa chỉ chú Tửng, cô Nả theo tiếng Quảng, tiếng Tiều. “Tửng” là âm tiếng Tiều của chữ “Đường”. Người Triều Châu tự xưng là Từng Náng (Đường nhân), lấy tên theo triều đại nhà Đường, một triều đại rực rỡ của Trung Quốc. Câu đầu của câu ca dao được hiểu là ngọn gió khởi lên sự vui vẻ từ lòng người chú Tiều (Từng Náng) khi gặp gỡ cô gái “Nị” là đại từ ngôi thứ hai theo âm Quảng Đông, “na” là chỉ phụ nữ tương tự như cuối câu tường thuật của tiếng Việt dùng từ: đấy, nhé... Câu ca dao nói lên hồn Việt, hồn Hoa hòa quyện vào nhau, chú, tửng, chị, nị... chứa chan tình cảm phơi phới thông qua từ láy “tửng từng tưng”, “na nả nị” quả là thần tình!
Nếu họ không gặp thì sao?
Trời mưa muỗi cắn máng cà
Chờ cho ến xại lên bờ khuôi huôi

Và hai câu ca dao thuần Việt:
Chờ anh cho hết sức chờ
Chờ cho rau muống lên bờ trổ bông
- Trời xanh đất đỏ kinh xanh
Đỉa bu muỗi cắn làm anh nhớ nàng
“Máng cà” đúng ra là “máng cả”. “Máng” là con muỗi. “Cả” là cắn. “Cả” trại âm “cà”, do âm luật lục bát. “Ến xại” là rau muống. “Khuôi huôi” là khai hoa - trổ bông. Câu ca nói lên sự nôn nao, khắc khoải nỗi chờ đợi. Trong cái không gian miệt đồng muỗi kêu như sáo, trong cái thời gian dằng dặc trôi trên miệt đồng rau muống nảy ngọn bò lên bờ... trổ bông tình yêu chứa chan niềm hy vọng.
Tóm lại, sắc thái ca dao Nam bộ vô cùng phong phú và đa dạng. Chính cái phong phú và đa dạng này đã làm cho ca dao Nam bộ mang nhiều vẻ của một vùng sông nước hữu tình. Và các yếu tố Hoa - Việt cùng tồn tại trong một câu ca dao lại là một mảng hết sức độc đáo của ca dao Nam bộ. Nó làm cho ca dao Nam bộ không chỉ mang dáng vẻ riêng về ca dao của một vùng đất, mà nó còn tạo cho ca dao ở đây có sự hấp dẫn, mới lạ và làm lay động lòng người.
Trần Phỏng Điều
(Theo anthdep.edu.vn)

Khám phá bí mật mang tên địa danh “ông”, địa danh “bà”

Khám phá bí mật mang tên địa danh “ông”, địa danh “bà”

Trong dòng người xe qua lại bất tận của TP.HCM mỗi ngày, có những cái tên (khởi đầu bằng chữ “ông” hoặc “bà”)mà ai cũng có thể đã nghe nhưng nhiều khi người ta không thể kể về sự ra đời của nó bằng một câu chuyện có đầu có cuối và xác nhận được thông tin chính xác...

Từ những địa danh mang tên các “bà”
Theo một số học giả thì nổi tiếng nhất trong các bà là Bà Điểm. Bà Điểm là một xã thuộc huyện Hóc Môn, TP.HCM. Nơi đây được biết đến với 18 thôn vườn trầu đã đi vào huyền thoại. Tương truyền vào năm 1868, đoàn người đi từ huyện Bố Chính thuộc tỉnh Quảng Bình vào vùng đất miền Nam khai phá, đến đây họ gặp người phụ nữ bán nước bên đường tên là Điểm, nên họ dùng chính cái tên này để gọi tên cho vùng đất là Bà Điểm. Còn một lý giải nữa cho tên gọi này, khi Trương Định khởi binh chống Pháp, nghĩa quân đặt trạm liên lạc ở vùng này, tại nhà bà lão tên Điểm nên thôn Tân Thới Nhứt (một trong 6 thôn đầu tiên của Mười tám thôn vườn trầu) có tên là Bà Điểm.
Chợ Bà Chiểu ở quận Bình Thạnh
Theo học giả Trương Vĩnh Ký thì Bà Điểm cùng với Bà Rịa, Bà Chiểu, Bà Quẹo, Bà Hom là 5 bà vợ của một viên lãnh binh, người đã xây cầu ông Lãnh. Theo phương pháp kinh tế tự túc mà các cụ ngày xưa thường áp dụng, ông đã lập ra 5 ngôi chợ, giao cho mỗi bà cai quản một nơi. Chợ Bà Điểm, gần làng Tân Thới - quê hương cụ Đồ Chiểu. Trầu cau ở Bà Điểm ngon nức tiếng một vùng, không nơi đâu sánh bằng.
Ngày nay, những ai sống ở TP.HCM đều biết đến một ngôi chợ, đó là chợ Bà Chiểu. Chợ Bà Chiểu là một trong những ngôi chợ lâu đời ở TP HCM. Chợ nằm ở trung tâm quận Bình Thạnh, được xây dựng năm 1942, khi mới hình thành tỉnh Gia Định và nâng cấp sửa chữa vào cuối những năm 1990. Theo nhà văn Sơn Nam thì Bà Chiểu là tên vùng đất, chỉ mới xuất hiện thời vua Tự Đức. Chiểu có nghĩa là ao nước thiên nhiên, Bà Chiểu là nữ thần được thờ bên ao thiên nhiên.
Cầu Thị Nghè nối giữa quận 1 và quận Bình Thạnh hiện nay xưa kia có tên là cầu Bà Nghè. Theo sử sách, cầu do bà Nguyễn Thị Khánh, con gái quan khâm sai Nguyễn Cửu Vân xây dựng để tiện việc đi lại, thuở bà mới khai hoang đất ở. Chồng bà là thư ký đỗ cử nhân (đương thời gọi là ông Nghè). Cầu được gọi là cầu Thị Nghè từ giữa thế kỷ XIX. Đến năm 1970, cầu được xây mới bằng xi măng cốt thép. Và kể từ đó, không chỉ có cầu Thị Nghè mà còn có rạch Thị Nghèo, chợ Thị Nghè, nhà thờ Thị Nghè không còn xa lạ gì với người dân cho đến ngày nay.
Ở Tân Bình có một ngôi chợ cổ nhỏ của người xứ Quảng chỉ “xứng tầm” chợ quê, hiện là chợ Phường 11. Nhưng xa xưa chợ mang một cái tên khác là chợ Bà Hoa. Chợ nằm trong làng dệt Bảy Hiền (Tân Bình) với đủ các mặt hàng đặc trưng từ Quảng Nam nói riêng và miền Trung nói chung, như hành tỏi nhỏ mà thơm của miền Trung, bánh nổ, bánh tổ, mắm nêm, các loại rau lá xứ Quảng... Chợ lấy theo tên một người phụ nữ tên Hoa, người đã lập nên khu chợ này vào năm 1967.
Ngoài những địa danh trên, ở TP.HCM còn không biết bao nhiêu địa danh mang tên các bà mà không thể kế hết ra trong bài viết này được. Như Bà Quẹo (Tân Bình), Bà Hom (quận 6), Bà Tàng (quận 8), sông Bà Cả Bảy (Củ Chi), cầu Bà Đô (quận 5), v.v...
Lăng Ông tại số 1, đường Vũ Tùng, P.1, Q. Bình Thạnh
Những địa danh mang tên các ông
Nếu bây giờ có người nhắc vườn Ông Thượng thì không ít người trẻ ngơ ngác không biết vườn này ở chỗ nào của Sài Gòn. Nhưng với những người già thì sẽ biết đó là Công viên Văn hóa Tao Đàn (quận 1) bây giờ. Ông Thượng là tên dân gian để gọi Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt thập niên 20, 30 của thế kỷ 19. Vì hồi đó, Tổng trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt lập tại đây một vườn kiểng để thưởng lãm và xem hát bội, từ đó dân gian quen gọi là Vườn Ông Thượng. Cũng liên quan đến Tổng trấn Lê Văn Duyệt là một nơi thờ tự có tên Lăng Ông Bà Chiểu. Đây là khu lăng mộ, nơi thờ cúng Tả quân Lê Văn Duyệt và phu nhân, nằm kế bên chợ Bà Chiểu.
Qua khu vực quận 2, có một địa danh quen thuộc là Giồng Ông Tố. Giồng là một phương ngữ Nam Bộ, để chỉ dải đất phù sa nổi cao lên, thường là ở ven sông. Có tài liệu cho rằng ông Tố ở đây là Trương Vĩnh Tố, một trong những tướng lĩnh của tổ chức "Phản Thanh phục Minh" bị triều đình nhà Thanh truy sát chạy sang nước ta được chúa Nguyễn cho tỵ nạn vào năm 1679 cùng thời với Mạc Cửu ở Hà Tiên. Ông đã tổ chức cho những cư dân lúc bấy giờ ở đây gồm: người Hoa, người Việt và người gốc Khơ-me của vùng thủy Chân Lạp cũ khai hoang, lập ấp, lập chợ. Từ đó tên Ông Tố gắn liền với địa danh ở đây.
Khu vực chợ Ông Tạ nay thuộc phường 3, 4, 5, 7 quận Tân Bình. Khu vực này vốn nổi tiếng bởi vì từng tồn tại phòng khám của lương y Nguyễn Văn Bi (thường được người dân gọi là ông Tạ). Ngoài ra, còn có một ông Tạ ở Thủ Đức gọi là Tạ Công Tử, chuyên đưa đò giúp người dân sang sông đi chùa ở quận 9 không lấy tiền.
Và cũng như các bà, còn một loạt địa danh mang tên các ông khác như: chùa Ông (Thủ Đức), chùa Ông Bổn (quận 5), cầu Ông Buông (quận 6), rạch Ông Điền (Nhà Bè), rạch Ông Đội (quận 7), v.v...
Những nhà nghiên cứu ngôn ngữ cho rằng, người Việt có một số cách gọi tên địa danh cơ bản sau: Lấy tên chức danh của người làm tên địa danh (ví dụ như Cống Quỳnh, Lãnh Binh Thăng, ...); lấy tên địa hình làm địa danh (như Giồng Ông Tố, Bàu Cát, Đầm Sen,...); lấy địa danh là đặc điểm của một địa điểm hay một khu vực sinh sống (như Chợ Lớn, Xóm Củi,...); lấy tên người làm tên địa danh khi họ là người sáng lập, khai phá, hoặc làm chủ nơi đó (Chợ Bà Chiểu, xã Bà Điểm, ...).
Dấu ấn những người tham gia mở đất
Những con người này, có thể có thật trong lịch sử, có thể không. Họ có thể là một vị tướng quân, một ông nghè, một bà huyện, và cũng có thể chỉ là những người dân nghèo đã từng đưa đò miễn phí qua sông. Nhưng họ, trong hành trình khai phá vùng đất phía Nam này chắc chắn đã góp chút công sức của mình vào đó. Góp phần tạo nên một TP. Hồ Chí Minh hiện đại và hoa lệ như ngày nay. Dấu tích về họ vẫn còn đây, trên mỗi con đường, mỗi con sông, mỗi ngôi chợ, mỗi cây cầu của TP.HCM.
Hương Lam

Phật giáo và văn học Phật giáo trên vùng đất mới Nam Bộ (từ thời kỳ đầu khai phá đến nửa đầu thế kỷ XX)

Phật giáo và văn học Phật giáo trên vùng đất mới Nam Bộ (từ thời kỳ đầu khai phá đến nửa đầu thế kỷ XX)

TS. Lê Ngọc Thúy - Đạo Phật ngày nay

Là một vùng đất có lịch sử khai phá muộn nhất trong lịch sử dựng nước Việt Nam, Nam bộ đã vượt qua rất nhiều gian lao thử thách để để bắt kịp nhịp độ và hoà nhập vào dòng phát triển của đất nước về mọi phương diện. Bên cạnh đó, tính chất đặc thù về địa lý, lịch sử cũng đã dẫn tới việc hình thành bản sắc riêng của vùng đất phương Nam trên nhiều phương diện khác nhau của đời sống vật chất và tinh thần, mà trong đó, Phật giáo và văn học Phật giáo vùng đất mới là một hiện tượng rất đáng được lưu ý.
Phật giáo trên vùng đất mới : Là một  yếu tố không thể thiếu được trong cuộc sống của người Việt Nam, Phật giáo đã song hành với  người Việt Nam trong công cuộc khai phá phương Nam. Những bước đầu tiên của Phật giáo đến với miền đất Phương Nam cũng là bước bắt đầu cho quá trình vừa thích nghi cao độ của Phật giáo với đời sống  đặc thù của vùng đất mới vừa giữ được  tinh thần căn bản của chánh pháp với nhiều tấm gương thành tựu  đạo pháp  đã được  đời sau ghi lại.
            Trước hết, Phật giáo vùng đất mới về căn bản vẫn gìn giữ và phát triển truyền thống đại thừa của Phật giáo Việt Nam. Nhiều thiền sư, danh tăng Nam bộ thuộc phái thiền Lâm Tế.  Phật giáo phát triển mạnh với hệ thống các chùa đại thừa trên khắp các miền Đông, miền trung tâm Sài Gòn Chợ Lớn và miền đồng bằng sông Cửu Long ngay từ những năm tháng đầu tiên của công cuộc mở đất. Các chùa này cũng gắn bó với tên tuổi của các thiền sư đã lưu danh về thành tựu đạo pháp. Chỉ kể các trường hợp đã được các công trình nghiên cứu chú ý , ta cũng đã có cái nhìn bước đầu về một số danh tăng và quá trình thành lập các chùa đại thừa ở Nam bộ trong thời kỳ từ cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX như sau :
            - Thiền sư Pháp Thông Thiện Hỉ, người khai sơn Chùa  Long Ẩn khoảng  cuối thế kỷ XVIII tại dinh Trấn Biên (nay là Biên Hoà)
            - Thiền sư Minh Vật Nhứt Tri (?- 1786) , là vị danh tăng gắn bó với Chùa Kim Cang ở Đồng Nai và đã đào tạo nhiều đệ tử và pháp tôn xuất sắc  tiếp tục nhiệm vụ hoằng pháp tại khắp miền các tỉnh Đông Nam bộ như Thủ Dầu Một, Đồng Nai, Thủ Đức….
            - Thiền sư Khánh Long lập chùa Khánh Long ở Gò Quít Biên Hoà. Gia Định thành thông chí ghi lại là “Gò cao bằng phẳng rộng rãi, trên có hang hổ và suối nước, dân chúng ở dọc theo đó. Trên núi có chùa Hội Sơn là nơi thiền sư Khánh Long sáng tạo để tu hành”.
            - Hòa thượng Thành Nhạc Ẩn Sơn (?- 1776) và chùa núi Châu Thới         - Thiền sư Phật Ý Linh Nhạc với quá trình khai sáng và phát triển chùa Sắc tứ Từ Ân và chùa Quốc Ân Khải Tường tại phủ Gia Định xưa ( nay thuộc Sài Gòn). Đây là hai ngôi chùa được triều đình bảo trợ, có tổ chức chặt chẽ, có chương trình đào tạo Phật pháp cho tăng sĩ.  
            - Thiền sư Tổ Tông Viên Quang (1758-1827) trụ trì chùa Giác Lâm (Huyện Tân Bình xưa, nay thuộc Sài Gòn), là vị danh tăng đã “có công phổ hóa Phật pháp,mở rộng chùa Giác Lâm thành Phật học xá, báo cho chư tăng hắp nơi ai muốn tham học Phật pháp thì đến chùa…Học tăng được đài thọ mọi phí tổn, từ việc ăn uống đến kinh sách, tập bút. Phật học xá này hoạt động suốt hai mươi mấy năm, mà chi phí cho chùa vẫn được đầy đủ sung túc”. Năm 1804, chùa Giác Lâm lại được thiền sư Viên Quang chỉ đạo đại trùng tu. Việc này được ghi lại trong Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức.   
            - Thiền sư Tiên Giác Hải Tịnh, chùa Giác Lâm: được đào tạo bởi hai thiền sư tài đức nổi danh thời  kỳ đó là Tổ Tông Viên Quang và Phật Ý Linh Nhạc, nên đây cũng là một cao tăng uyên bác, tiếp tục truyền thống phổ hóa Phật pháp và uốn nắn hoạt động Ứng phú của chùa.
            -Thiền sư Minh Vi Mật Hạnh cũng tiếp tục truyền thống phổ hóa Phật pháp tại chùa Giác Lâm.
            - Thiền sư Minh Khiêm Hoằng Ân cũng ở chùa Giác Lâm, là vị cao tăng “tinh tấn tham học kinh sách, học rộng hiểu nhiều”. Ngài cũng là người đã chuyển bộ luật Tì Ni viết bằng chữ Hán ra chữ Nôm, chú giải cho rõ ràng dễ học (1894). Đây còn là một thiền sư rất đặc biệt, có công lớn trong việc đặt một gạch nối giữa hai dòng Phật giáo truyền thống và Phật giáo bản địa,dân gian, uốn nắn dòng Phât giáo dân gian trong thời gian ngài đi vân du xuống các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long như Mỹ Tho, Châu Đốc, Long Xuyên, đặc biệt tại chùa Tây An ở núi Sam Châu Đốc, nên ngài còn được dân gian xưng tặng là Tổ Núi Sam ( 1905- 1910).   
            - Thiền sư Đạo Trung Thiện Hiếu (Tổ Đỉa) (tịch năm Kỷ Mùi,có thể là 1858 hoặc 1879) người  khai sơn chùa Linh Sơn trên núi Bà Đen và chùa Long Hưng tỉnh Sông Bé .
            - Thiền sư Ngộ Chân (Hòa thượng Long Cốc) , cất chùa Đức Vân trên núi Trấn Biên ( Bà Rịa), được ghi lại trong Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức: “Hình núi cao ngất, xanh um, có những hang nai, đồi thông, mây phủ, suối reo, cảnh trí u tịch, chầu về Gia Định”.
            - Thiền sư Như Nhãn Từ Phong (1864- 1938) tu học tại chùa Giác Viên, thông hiểu kinh pháp, nhiều lần được mời làm Pháp sư cho các trường Hương tại một số chùa ở Nam bộ. Đây là vị danh tăng “có tác phong  đạo đức cao, có óc canh tân và nhiệt tâm xiển dương chánh pháp, cố hết sức lo chỉnh lý lại tăng đồ và cải cách sinh hoạt Phật giáo để trừ các tệ đoan trong Phật giáo Nam kỳ”.
            - Thiền sư Hải Bình Bảo Tạng từ Phú Yên vào Bà Rịa lập ra Châu Viên Sơn Tự, hoằng hóa Phật pháp ở đây và lập ra và nhiều chùa  khác ở Bà Rịa như  Long An, Bửu An, Long Hưng…
            - Hòa thượng Hoàng Long (?- 1737) từ Bình Định vào hoằng hóa ở Hà Tiên, tu trên núi Bạch Tháp vào thời Tổng binh hầu Mạc Cửu. Đây cũng là vị hòa thượng được ghi lại trong Gia Định thành thông chí.
            - Ni cô họ Lê, lập am tu hành trên núi gần Bà Rịa. Sách Đại Nam nhất thống chí viết “Núi nữ tăng ở đông nam huyện Long Thành, tục gọi là núi Thị Vãi, đất đá xen lộn, cây cối lên cao…Xưa có ni cô là Lê Thị Nữ dộng am tại núi ấy”. Gia Định thành thông chí thì viết “Bà cạo đầu lập am ở đỉnh núi, tự làm thầy cả cùng bọn đồng tộc giữ lòng tu trì, sau thành chánh quả. Người ta nhơn đó đặt tên núi”.
            - Ni cô họ Tống ở Hà Tiên với di tích Am Quan Âm ở núi Đại Kim, Hà Tiên, một trong mười cảnh đẹp của đất  Hà Tiên, được ghi lại trong Đại Nam tiền liệt truyện tiền biên.  
Trong các thập niên 20, 30 của thế kỷ XX, các chùa lớn tại Nam bộ có phong trào chấn hưng Phật giáo, mở các lớp giảng dạy kinh, luật… Chẳng hạn như năm 1931, Hội Nam kỳ nghiên cứu Phật học ra đời và tiếng nói của hội là tạp chí Từ Bi Âm. Năm 1933, Liên đoàn học xã được thành lập để đào tạo tăng tài và hoằng dương Phật pháp. Năm 1934, hội Lưỡng Xuyên Phật học được thành lập để đào tạo tăng ni.
Đây chỉ mới là những liệt kê ban đầu chắc chắn là chưa đầy đủ về những thành tựu của Phật giáo vùng đất mới. Liệt kê này chỉ nhằm mục đích cho thấy đạo Phật đã thực sự có một nền tảng vững chắc ở khắp Nam bộ ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc khai phá phương Nam.

Sự xuất hiện và phát triển của dòng Phật giáo dân gian là một hiện tượng rất cần ghi nhận ở khía cạnh là đặc điểm văn hóa tâm linh mang màu sắc bản địa tại vùng đất mới. Nhưng buổi đầu, ngoài những truyền tụng dân gian, chưa có công trình nghiên cứu nào nói đến cho tới khi có một số công trình xuất hiện từ nửa sau thế kỷ XX, mà đáng tin cậy nhất là các công trình của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hầu. Dòng Phật giáo dân gian tại Nam bộ cũng đã có một cuộc hành trình riêng của mình với một số tên tuổi được truyền tụng và hơn cả truyền tụng, là được nhân dân mến mộ, tôn vinh.  
- Dòng Phật giáo dân gian Nam bộ có thể đã được bắt đầu từ vùng đất Tòng Sơn nay thuộc Sa Đéc tỉnh Đồng Tháp. Đây là nơi mà Gia Định thành thông chí từng ghi nhận là “trong làng dân cư đông đảo, bốn mặt sông nước, trong làng cá lội cò bay, cảnh trí cực kỳ thanh tú”. Đây là quê hương của một nhân vật đã  được dân gian tôn là Hoạt Phật. Đó là Đoàn Minh Huyên, được tôn xưng là Phật thầy Tây An, giáo tổ của một tông phái Phật giáo mang nhiều màu sắc bản địa rất được nhân dân Nam bộ tin yêu và ngưỡng mộ.
Phật thầy Tây An Đoàn Minh Huyên (1807- 1856) bắt đầu cuộc đời hành đạo của mình vào năm 1849. Từ Tòng Sơn, Phật thầy Tây An đã in dấu chân của ngài lên nhiều vùng của miền Tây Nam bộ như An Giang, Châu Đốc, và dừng chân lâu nhất ở núi Sam rồi tịch tại đây.
Giáo pháp của Phật thầy Tây An dựa trên những nguyên lý căn bản đạo Phật, được thay đổi chút ít về hình thức thờ cúng và hành đạo của tu sĩ lẫn người tại gia cho đơn giản và thiết thực hơn trong hoàn cảnh còn eo hẹp khó khăn của người dân vùng đất mới ( tự làm ăn sinh sống,không cần “đầu tròn áo vuông”, nghi thức cúng tế đơn giản và tu đâu cũng được). Ngài truyền bá Đạo hiền có nội dung chính hướng con người đến ý thức chu toàn nhiệm vụ của mình với bốn ơn lớn của con người là ơn cha mẹ tổ tiên, ơn đất nước, ơn Tam bảo, ơn đồng bào và nhân loại.
- Sau Phật thầy Tây An,là sự xuất hiện của các hình thức tu và hành đạo trong dân gian của những ông đạo, nhiều người vốn là môn sinh của Phật Thầy Tây An. như Bổn sư Ngô Lợi (?- 1909), Sư Vãi bán khoai (những năm đầu thế kỷ XX), Võ Cử nhân Nguyễn Văn Đa (sống vào nửa sau thế kỷ XIX, còn gọi là Cử Đa, đạo hiệu là Ngọc Thanh), Đức Cố Quản Trần Văn Thành (người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Bảy Thưa năm 1872), ông Tăng Chủ ( sống giữa thế kỷ XIX), ông Bùi Văn Tây, ông Đạo Xuyến (1834- 1914), ông đạo Lập, ông đạo Lãnh…
Ngoài ra, đạo phái Bửu Sơn Kỳ Hương (được thành lập từ đầu thế kỷ XX tại Châu Đốc)ngoài nhiệm vụ khuyến thiện, vốn có liên hệ chặt chẽ với các phong trào yêu nước, đã “dưỡng nuôi và che chở các chiến sĩ Cần Vương ngày xưa đã từng đi theo Đức Cố Quản, để những người ấy được an ổn tu hành không còn bị trôi nổi lạc loài nữa”.  
Và nổi tiếng nhất chính là ông đạo Huỳnh Phú Sổ (1919- 1947), người sáng lập ra Phật giáo Hòa Hảo, còn được gọi là Ông Tư  Hoà Hảo. Bắt đầu cuộc đời hành đạo vào năm 1939, với đức độ và lòng từ, ông còn được dân gian tôn xưng là Đức Thầy, Đức Huỳnh Giáo chủ, Ông tướng bình dân. Ông làm các công việc chữa bệnh , thuyết pháp và ra kệ giảng. “Rất khiêm tốn, rất bình dân, không phân biệt người sang người hèn, khuyên người làm lành lánh dữ, trau sửa tâm tính, kính tin trời Phật” và còn gắn bó trách nhiệm với cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Nam bộ bằng cách riêng của mình.
Loại bỏ các trường hợp mê tín, lường gạt, giả danh của các “gian đạo sĩ”, các ông đạo kể trên rất gần gũi với một số Họat Phật đã từng được truyền tụng trong dân gian của Trung Hoa như Đạo Tế, Bố đại hòa thượng… với hành trạng giống nhau là thầm lặng, thanh bần, vượt qua những chấp trước về hình tướng , dùng cách dĩ huyễn độ chơn, nhập thế tối đa để thực hiện hạnh từ bi phổ độ, giáo hóa chúng sinh, và chỉ thi triển huyền nhiệm khi thật cần thiết.

Điểm gặp gỡ của hai dòng Phật giáo ở Nam bộ từ thời kỳ khai phá cho đến nửa đầu thế kỷ XX:
- Phật giáo thường gắn chặt với quá trình khai phá, khẩn hoang, lập làng, gắn bó với đời sống của cư dân vùng đất mới bằng  tinh thần nhập thế cao độ. Nhiều  câu chuyện về hành trạng của các vị thiền sư và vô số câu chuyện về các ông đạo đều có sự hiện diện của các sự kiện đặc thù thời khai phá có khi phải giải quyết bằng huyền nhiệm.
Thiền sư Phật Ý Linh Nhạc (1725- 1821) đã tuân lịnh thầy đi theo chân di dân năm 1774 do chúa Võ Vương phát động vào khai phá huyện Tân Bình, dinh Biên Trấn của phủ Gia Định tức Sài Gòn sau này . Cùng với một tăng sĩ đồng hành, “thiền sư Linh Nhạc đã đến làng Tân Lộc lo khai phá rừng, cất am tranh tu hành , cùng dân chúng khai khẩn ruộng đất canh tác. Sau  hơn mười năm, khi tạm ổn định đời sống, dân cư đã đến với Phật giáo nhiều hơn. Am tranh được sửa thành ngôi chùa khang trang với sự trợ giúp của dân chúng” . Phật giáo và tăng sĩ chính là điểm tựa cho cuộc sống còn nhiều bấp bênh, bất trắc của người khai hoang  giữa nơi hoang sơ, nhiều hiểm họa từ thiên nhiên, thời tiết…
Tổ Đỉa là tên dân gian gọi thiền sư Đạo Trung Thiện Hiếu về việc dùng thần thông giúp dân bớt khó khăn vì nạn đỉa vắt trong quá trình khai phá vùng bàu trũng Tây Ninh . Thiền sư Hồng Ân và đệ tử Trí Năng đánh cọp cứu dân tại Tân Kiểng, Cần Giuộc Long An. Phật thầy Tây An tìm những nơi hẻo lánh xa xôi để khẩn hoang lập những trại ruộng để tín đồ  vừa làm ăn vừa tu hành. Sư Vãi bán khoai đánh cọp cứu người.Ông Tăng Chủ gỡ hóc xương cho cọp và lập đình Xuân Sơn. Ông đạo Bùi Văn Tây bắt sấu thần…Nhiều thiền sư và ông đạo biết làm thuốc chữa bệnh đã giúp đỡ  rất nhiều cho người dân vùng đất mới. Và điều này cũng là phương tiện để người tu hành tiếp cận, phổ độ và gieo duyên lành cho chúng sinh.
Các ông đạo còn gắn bó với những biến cố và nhiệm vụ lịch sử như Ông Cử Đa, Đức Cố Quản, Bửu Sơn Kỳ Hương là những lãnh đạo và tổ chức nghĩa quân chống Pháp hoặc ủng hộ, nuôi chứa người chống Pháp.  
Chánh pháp của Phật giáo luôn được lựa chọn làm nguyên lý căn bản cho nhiều tông phái Phật giáo dân gian. “Đắc đạo, thành Phật”, thể hiện được chánh pháp luôn là một giá trị thiêng liêng trong tâm thức dân gian và họ đòi hỏi điều đó ngay trong các ông đạo. Vì thế, dù có thể chịu ít nhiều ảnh hưởng từ tín ngưỡng dân gian, nhưng các dạng Phật giáo dân gian chân chính thường nhất thiết phải tự khẳng định mình bằng các nguyên tắc đạo lý căn bản của Phật giáo. Thí dụ như Cứu nhân độ thế, cứu khổ cứu nạn thường là nguyên tắc căn bản để các ông đạo đến với quần chúng .   
            Ngoài ra, các tổ chức Phật giáo Nam bộ thời kỳ này cũng rất quan tâm đến việc uốn nắn các luồng Phật giáo dân gian, tìm cách hướng các người hành đạo trong dân gian đi đúng con đường chánh pháp, sao cho sự hiện diện của họ có những lợi ích chân chính và thiết thực nhất cho cộng đồng. Thí dụ như sự kiện phong trào Ứng phú (sử dụng lễ nhạc của đạo Phật và của dân tộc và việc hành lễ tại chùa hay tại nhà như cầu siêu, cầu an, gọi đơn giản là “đi đám” )lan tràn khắp Nam bộ vào giữa thế kỷ XX đã đặt ra rất nhiều vấn đề về việc bảo vệ giá trị chân chính của Phật giáo.
 Hòa Thượng Hải Tịnh đã đề ra biện pháp dẫn dắt việc Ứng phú đi đúng chánh pháp, bảo vệ được giới hạnh của tăng sĩ mà vẫn thỏa mãn được nhu cầu tâm linh dân gian, giữ được mối liên hệ của quần chúng với chùa, không làm mất nhân duyên của họ với Phật đạo. Tại Mỹ Tho, Hòa thượng Minh Khiêm Hoằng Ân đã khai mở cho một vị sư ứng phú và gia chủ bằng vừa bằng đức độ và trí tuệ, vừa bằng huyền nhiệm. Cũng chính hoà thượng Hoằng Ân cũng đã hoằng hóa hai lần  tại chùa Tây An ở núi Sam Châu Đốc để cảm hóa và uốn nắn các ông đạo của dòng Phật giáo dân gian này đi cho thật đúng chánh pháp. Ngài đã rất thành công, dân gian tôn xưng ngài là Tổ Núi Sam.
Phật giáo là một tôn giáo gắn bó sâu sắc và bền bỉ nhất trong tâm thức người Nam bộ, mặc dù không thể phủ nhận sự hiện diện của hiện tượng tam giáo Nho Phật Lão trong đời sống văn hóa tinh thần Việt Nam, và Nam bộ cũng không ngoại lệ. Nếu Nho giáo và Lão giáo còn tồn tại trong thế hài hòa với Phật giáo trong đời sống tinh thần của người Nam bộ trong thời kỳ mở đất, rồi ngày càng suy tàn trước cơn lốc của chiến tranh và văn hóa phương tây thâm nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX thì Phật giáo không hề suy suyển, mà ngược lại, Phật giáo còn là một điểm tựa vững chắc cho tinh thần và tư tưởng của người Nam bộ. Tất cả các tông phái Phật giáo dân gian ra đời tại Nam bộ cho dù có ít nhiều ảnh hưởng Nho hay Lão, nếu muốn khẳng định giá trị chân chính của mình, có sức thuyết phục cao với quần chúng đều phải lấy các chuẩn mực và cứu cánh của Phật giáo đề làm nền. Thí dụ như trường hợp các đạo Hiếu nghĩa của Bửu Sơn Kỳ Hương,hay giáo lý của Phật giáo Hòa Hảo xem đạo Nhân (Nho giáo) là nấc thang đầu và đạo Phật là nấc thang cuối của quá trình tu tập của con người.

Văn học Phật giáo trên vùng đất mới.
            Tính tới thời điểm nửa đầu thế kỷ XX, lịch sử khẩn hoang Nam bộ (lấy điểm mốc là 1698) mới chỉ hơn hai thế kỷ, nhưng trong hai thế kỷ đó, người khai phá đã phải cùng một lúc đảm đương rất nhiều sứ mệnh như  khai khẩn, khai cơ, củng cố nền tảng văn hóa tinh thần, rồi lại làm trách nhiệm giữ nước, bảo vệ dân tộc và nền văn hóa dân tộc. Trong một hoàn cảnh như thế, khó có thể hình dung được sự tồn tại của một dòng văn học Phật giáo đúng nghĩa như  trường hợp của thơ Thiền Lý-Trần, một mảng văn học tôn giáo được hình thành trong một điều kiện vô cùng thuận lợi ( Đạo Phật được coi như quốc giáo, kéo dài suốt hai triều đại từ đầu thế kỷ XI đến gần cuối thế kỷ XIV).
            Tuy nhiên, qua bước đầu thâm nhập các tư liệu và các công trình nghiên cứu đã xuất hiện, thực tế là đã có tồn tại một dòng văn học Phật giáo đúng nghĩa ở Nam bộ với hai nhánh, tạm gọi là dòng văn học Phật giáo chịu ảnh hưởng Thiền tông và dòng văn học Phật giáo bình dân chịu ảnh hưởng Tịnh độ tông.   

Dòng văn học chịu ảnh hưởng thiền tông chủ yếu do các cao tăng, thiền sư, trí thức sáng tác. Đó là  những bài kệ, thơ của các thiền sư nói lên những sở đắc của mình về Phật pháp, còn gọi là thơ thiền, thiền lý hoặc thiền ý. Tuy số bài thơ Thiền này chưa được chú ý sưu tầm nhiều,nhưng chắc chắn rằng nó có tồn tại không phải là ít trong các thư tịch về các Tổ của các chùa, nhất là các chùa có lịch sử lâu đời. Đó là những bài kệ, thơ có thể là khá nhiều của các thiền sư, các tổ viết. Thí dụ như một bài thơ thiền lý viết bằng thất ngôn bát cú Đường luật ( trích từ sách trên không ghi rõ tác giả) =ược trích từ công trình Lịch sử tổ đình Giác Lâm của thiền sư Huệ Chí :
                        Kiếp người thành trụ hoại rồi không
                        Đeo đẳng sao cho vượt khỏi vòng
                      Chay lạt tinh thiền vui giải thoát
                        Ấp yêu xúc cảm rối bòng bong
                      Vô duyên sẩy bước triền miên kiếp
                      Hữu hạnh bền công dứt tuyệt vòng
                        Thừa kế đạo từ ngàn vạn cách
                        Phân thân biến thể để hòa đồng

Hoặc có thể là những tác phẩm do các nhà nho, quần chúng trí thức mộ đạo sáng tác. Chẳng hạn như danh sĩ Trịnh Hoài Đức nhân dịp gặp lại bạn cố tri là thiền sư Viên Quang Tổ Tông có viết  một bài thơ ngũ ngôn dài 22 câu mà bốn câu cuối cho thấy đây là một bài thơ Thiền ý mà tác giả là một người thâm hiểu Phật pháp:
                                     Nhìn xưa như giấc mộng
                                    Tâm cùng tâm tương nghị
                                     Chuyện xưa nói sao cùng
                                     Đại đạo vốn  như thị
Ngoài ra, còn có những bài kệ ghi trên tháp của các tổ mà có thể chưa ghi nhận được hết. Thí dụ như bài kệ ghi trên tháp của hòa thượng Minh Khiêm Hoằng Ân tại chùa Giác Lâm cũng mang dạng thức của ngôn ngữ Thiền và công án thiền:
                                 Gốc nặng tay thường vỗ
                                    Gái đá biết nấu trà
                                    Thiện tài tham khắp xứ
                                    Đậu đen mầm chưa ra
                                     Mây tan trăng vằng vặc
                                    Xuân đến cây nở hoa
- Trong công trình Thiền sư Việt Nam của Hoà Thượng Thích Thanh Từ, phần thiền sư Nam bộ (do Nguyễn Hiền Đức viết) có nhắc tới Hứa sử vãn truyện (được ghi rõ là tập truyện thơ do  thiền sư Toàn Nhật Quang Đài san định lại, bản gỗ khắc in hiện còn lưu giữ  tại chùa Giác Viên).
- Ngoài ra còn các bài thơ vịnh cảnh chùa,ca ngợi công đức các danh tăng chắc chắn là không ít. Như bài thơ tả cảnh chùa Khánh Long như sau :
                         Tiêu sơ cây núi bóng tà dương
                         Khe suối đi qua viếng đạo trường
                         Không khói đun trà hạc trong ổ
                         Mến thay thiền vị thật thanh lương.

- Không thể không tính đến các câu đối được khắc trên các công trình kiến trúc ở các chùa thể hiện rất sinh động cách tiếp nhận Phật pháp của người Nam bộ hồi ấy . Chẳng hạn như các câu đối được khắc trên các công trình kiến trúc của  chùa Nam Nhã, chùa Hội Linh (các chùa được xây dựng vào đầu thế kỷ XX ở Cần Thơ) . Nếu câu dưới đây cho thấy ảnh hưởng mạnh mẽ của tinh thần và phong cách Thiền Tông trong đạo  Phật ở Nam bộ ( chữ Hán, Nguyễn Văn Hoài dịch ra tiếng Việt):
- Như thực như hư, bóng trúc quét thềm bụi chẳng động
  Thị không như sắc, trăng xuyên đáy bể nước không xao
Thì một câu khác cho thấy dấu ấn của lịch sử trong tinh thần Phật giáo ở Nam bộ thời kỳ này:
            - Đức Phật trùm khắp trời Nam, hơn bốn nghìn bổn đạo đều vượt sang bờ giác
            Giúp khai mở đất Việt, ba mươi triệu đồng bào cùng lên thuyền từ.
Câu đối trên vừa có ý tưởng của Phật giáo vừa có ngôn ngữ mang phong cách và tư tưởng của văn học yêu nước- minh tân Nam bộ đầu thế kỷ XX.   

Nói chung, mảng văn học Phật giáo chịu ảnh hưởng tư tưởng Thiền tông tại Nam bộ bắt đầu từ thời mở đất vẫn là một giá trị lớn chưa được khai phá hết, chắc chắn còn tồn tại tản mạn từ nhiều nguồn như các thư tịch về các Tổ, các chùa cổ, tủ sách tư nhân…Mảng văn học này cần được quan tâm tiếp cận và nghiên cứu để có thể làm phong phú hơn nền văn học Thiền Việt Nam.         

Văn học Phật giáo dòng bình dân chịu ảnh hưởng Tịnh độ tông.
            Tiếp cận với các công trình sưu tầm, biên  khảo của các nhà nghiên cứu và tổ chức tôn giáo, có thể bước đầu rút ra một vài nhận xét về mảng  văn học này như sau :
- Đây là mảng văn học gắn bó chặt chẽ với hiện thực lịch sử, xã hội Nam bộ trong một thời kỳ nhiều gian nan thử thách (cuộc khai phá, xâm lăng của thực dân, xã hội loạn lạc buổi giao thời, tình cảnh lầm than của dân chúng). Vì thế, nó bắt buộc phải có liên quan với tất cả các vấn đề trên, đặc biệt là nhiệm vụ với cuộc sống tinh thần và tâm linh của nhân dân vùng đất mới.
- Đây là mảng văn chương chủ yếu chọn hình thức văn vần và các thể loại thơ ca dân gian và ngôn ngữ dân gian Nam bộ để làm phương tiện biểu đạt. Phương thức truyền bá chủ yếu vẫn là truyền miệng trước khi được ghi lại và truyền bá bằng chữ Nôm rồi cuối cùng được phiên ra chữ quốc ngữ. 
- Đây là mảng văn chương đã chọn Tịnh độ tông với pháp môn niệm Phật làm cơ sở nền tảng tư tưởng, rất thích hợp cho việc quảng bá tinh thần giải thoát của đạo Phật cho quảng đại quần chúng trong thời kỳ lịch sử rối ren. Nó còn phải chấp nhận một số ảnh hưởng từ Nho và Lão để không đối lập với văn hóa tam giáo Việt Nam trong quá trình truyền bá đạo Phật ra công chúng. Nội dung lớn của nó là bước đầu giáo dục đạo đức, kêu gọi con người hướng thiện, chu toàn nhiệm vụ với gia đình, với xã hội, đất nước (ảnh hưởng Nho giáo), sau đó tiến tới dẫn dắt tâm linh hướng về con đường giải thoát chân chính của Phật giáo.
- Mảng văn chương này gồm nhiều Sấm truyền, Sấm giảng ( tên gọi dân gian với những tác phẩm văn vần thường được  lưu hành rộng rãi trong dân gian vừa có nội dung giáo hoá, khuyến thiện vừa có ẩn chứa nội dung tiên tri tương lai mà dân gian gọi là “tiết lộ huyền cơ”, “thiên cơ”), hay gọi gọn hơn là giảng của Phật thầy Tây An Đoàn Minh Huyên, của người sáng lập Phật giáo Hoà Hảo là Huỳnh giáo chủ, và của các ông đạo. Bên cạnh đó là không ít thơ ca giáo huấn, thơ có cảm hứng tôn giáo chủ yếu làm bằng thơ lục bát, thơ Đường luật…của các vị trên để lại cùng với nhiều người làm thơ khác dưới hình thức xướng họa rất nhiều.
            Ngoài ra, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hầu, mảng văn chương này còn một số tác phẩm khác như  quyển Đồ thư  ghi chép lại chuyện biến thiên của đất nước của ông đạo Ngô Lợi, Ký thuật về Đức Cố Quảncủa tác giả Vương Thông.

Vài nét về các Sấm truyền, Sấm giảng
Cho những năm cuối của nửa đầu thế kỷ XX, ở Nam bộ đã xuất hiện rất nhiều các Sấm truyền, Sấm giảngđược sáng tác trong những mục đích rất rõ ràng như đã nêu trên. Nổi tiếng nhất là  Sấm truyền của Đức Phật thầy Tây An (sau nhiều năm tồn tại bằng truyền miệng, đã được một người ký tên là Đồ Trương chép lại bằng chữ Nôm năm 1909, Nguyễn Văn Hầu phiên ra quốc ngữ năm 1973) và sáu quyển Sấm giảng giáo lý của Huỳnh giáo chủ hay còn gọi là Sấm Hoà Hảo . Ngoài ra còn có  Sấm giảng người đời của Sư vãi bán khoai,Giảng tà Lơn của Cử Đa, Đạo ông giảng tập (bằng văn Nôm, sau được phiên ra quốc ngữ, khuyết danh). Nét thống nhất căn bản về tư tưởng là đặc điểm đầu tiên, quan trọng nhất của các sấm truyền trên chính là các điểm sau :
- Sự xác định rõ ràng động cơ của sự xuất hiện sấm truyền chính là lòng thương xót tình cảnh chúng sinh, đồng bào trong những mối hiểm nguy của lịch sử trong chiến tranh thực dân  :
                                    - Ngồi khùng trí đoái nhìn cuộc thế
                                       Thấy dân mang sưu thuế mà thương
                                       Chẳng qua là Nam Việt vô vương
                                       Nên tai ách xảy ra thảm thiết…(Sấm Hoà Hảo)
Và nói theo ngôn ngữ tôn giáo, đó là những đau khổ của thời Hạ Nguơn :
                        Liếc xem thuyền bá bơ vơ
                               Sóng khơi bể thẳm mịt mờ sông mê
                                     Bớ ai ăn ở vụng về
                               Không lo lửa nước nhiều bề chông gai…
Sấm Phật thầy Tây An)
Hay :                      - Thấy đời ly loạn bất an
                                Khắp nơi trong nước nhộn nhàng đao binh
                                       Kẻ thời phụ nghĩa bố kình
                                  Người thời trung hiếu chẳng gìn vẹn hai. (Sấm Hoà Hảo)
                                    - Chốn hồng trần nhiều nỗi thảm thương
                                       Làm sao cứu những người hung ác
                                       Khắp thế giới cửa nhà tan nát
                                       Cùng xóm làng thưa thớt quạnh hiu…(Sấm Hoà Hảo)
- Mục đích của các Sấm truyền trước hết đều muốn giáo dục con người thế tục biết tu thân  theo khuôn mẫu lý tưởng từ Nho giáo :
                                        - Tu hiền hiếu nghĩa đôi  bên
                                       Tu cang tu kỷ gắng bền hiếu trung
                                                                                          (Sấm Phật Thầy Tây An)   
                                        -  Hiếu trung hai chữ phụng thờ
                                     Lâm tòng dưỡng tánh đặng nhờ tấm thân (Giảng tà Lơn)

Sau đó sẽ tiến tới sự hài hoà giữa nhiệm vụ thế tục và đời sống tâm linh:
Niệm Phật thì phải chí tình
                                    Ơn cha nghĩa mẹ giữ mình cân phân
Niệm Phật phải giữ Tứ ân
Ơn nhà nợ nước xử phân trọn nghì
Sấm giảng người đời)
Không dừng lại ở các lý tưởng thế tục, mục đích cao nhất mà các Sấm truyền muốn đạt tới chính là mang lại cứu cánh giải thoát cho con người, trước hết là nhờ  lực từ bi gia hộ :
                                    Nhiệm mầu thuyền đạo Thích Ca
                              Quan Âm cứu khổ, Di Đà độ sanh  (Sấm Phật Thầy Tây An)   
Và sau đó chính là nhận thức vận động tự thân của con người theo lý tưởng Tịnh độ :
                            - Tu tánh, tu hạnh, nết na
  Tu câu lục tự di đà đừng quên
                          Lầm thầm miệng niệm Di Đà
 Tay lần chuỗi hột lòng ta giữ lòng…( Sấm Phật Thầy Tây An
-          Nam mô đức Phật Di đà
                       Khiến người trở lại thảo gia của người ( Sấm giảng người đời)
-         Môn Tịnh Độ là phương cứu cánh
Rán phụng hành kẻo phụ Phật xưa….
-         Ao sen báu Tây phương đua nở
     Chờ chúng sanh niệm Phật chí tâm……
-         Cõi Tịnh độ lắm điều thanh nhã
Khổ, buồn rầu, lo sợ chẳng còn   (Sấm Hoà Hảo)
Ngoài ra, trong xu hướng dẫn dắt con người trên con đường giải thoát, các Sấm truyền cũng tích cực nhắc nhở những căn bản tu tập quan trọng nhất của đạo Phật như  Ngũ giới, Bát chánh đạo…
                        - Đua nhau rượu thịt nghinh ngang
                          Chửi cha  mắng mẹ nhiều đàng ngược xuôi
                        …Sát sanh hại vật ăn chơi
                           Gian phu dâm phụ nhiều lời trớ trinh (Sấm Phật Thầy Tây An)   
                      - Kinh với sấm chúng dân thường thấy
                        Chữ Bát chánh rõ ràng trong giấy  (Sấm Hoà Hảo)
Như vậy, các Sấm truyền thuộc về loại văn học giáo huấn và giải thoát, một hiện tượng không xa lạ gì trong văn học nhân loại với nhiều tôn giáo khác nhau. Các sấm truyền ở Nam bộ chính là hình thức dân gian của các lý thuyết  tôn giáo được quảng bá bằng phương tiện thơ ca. Ngoài ra, sấm truyền còn có sức thu hút bởi những câu thơ tiên tri được hé lộ dưới nhiều hình thức như ẩn dụ, nói lái, nói ngược, xuôi để ra ẩn ý…mà quần chúng rất  kính ngưỡng.
Phương thức thể hiện của các sấm truyền cũng đa dạng. Sơ bộ, ta thấy có các hình thức lục bát, song thất lục bát, thơ bảy chữ. Riêng thể lục bát được dùng trong các sấm truyền khá đặc biệt với cách biến thể đôi chút ở âm luật và vần điệu rất phổ biến như :
                                    - Nhắc ra tâm trí bồi hồi
                              Khó đứng khôn ngồi / thương xót bá gia (Sấm Hoà Hảo)
                                        Lọc lừa thì đặng nước trong
                           Ma Phật trong lòng/lựa phải tìm đâu. (Sấm Phật Thầy Tây An)
-         Xin trong anh chị đừng phiền
-         Đồng bạc đồng tiền là  thứ phi ân
Muốn sau dựa được các lân
Hãy nên trau sửa hiền nhân mới là…(Sấm Hoà Hảo)
Với lợi thế ổn định của các thể thơ dân gian, các sấm truyền thường đạt được yêu cầu cao về âm điệu nhiều nhạc tính thích hợp với thị hiếu thưởng ngọan nghệ thuật qua hình thức ngâm nga diễn xướng của quần chúng Nam bộ thời kỳ còn rất nhiều người không biết chữ. Các thể thơ dân gian cũng thích hợp với đủ các loại không gian diễn xướng của các sấm truyền   thường trải rất rộng trong cuộc sống của dân gian như chợ búa, bến đò, thôn xóm, đồng ruộng, sông rạch, thị thành…tức là đủ các nơi từ gần gũi đến xa xôi mà các ông đạo không quản ngại đến với những người có cơ duyên giáo hóa như Sấm giảng người đời đã viết : Thương thay ông lão bán khoai, Lên non xuống núi hôm mai dạy đời, Thân sao nay đổi mai dời, Xóm kia làng nọ khổ thay thân già .

Vài nét về bộ phận thơ ca
            Thơ ca chịu ảnh hưởng Phật giáo dân gian là một hiện tượng độc đáo không thể bỏ qua trong mảng văn học Nam bộ nửa đầu thế kỷ XX. Lực lượng sáng tác chủ yếu là những người sáng lập và các cao đồ của các tông phái. Có nhiều bài thơ không được đặt tên. Người sáng tác nhiều nhất chính là Giáo chủ đạo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ với số bài thơ khá phong phú về nội dung và với nhiều thể thơ, lên tới hơn 200 bài, vừa chữ Hán, vừa quốc ngữ.
Dưới dạng thơ cảm tác, rất nhiều thơ xướng họa, vịnh cảnh, vịnh vật…thơ ca chịu ảnh hưởng Phât giáo dân gian ở Nam bộ chủ yếu có những nét chính sau đây :
-  Hướng về mục tiêu giáo huấn, giảng giải đạo lý cho quần chúng là nội dung lớn của  mảng thơ ca này. Sau đây là vài bài tiêu biểu :
                                    …Dạy đời hằng giữ câu vi thiện
                                        Tưởng đạo vui theo dạ chí thành
                                        Cửa Phật trau giồi công đức lớn
                                        Ngâm tầm mùi đạo rất tinh minh
(Tương truyền của Phật thầy Tây An đọc cho đệ tử viết lại ). Hay bài thơ sau đây  :
                                    Vui mừng gặp chốn hiền lương
                              Dốc lòng mở cửa Phật đường độ dân
                                     Làng Nhân Nghĩa để chân đến chốn
                                      Thấy dương trần trà trộn tà tâm
                                     Oai thần đem đạo huyền thâm
                                    Nhiệm mầu phổ độ âm thầm ai hay…
Hay: 
                        Bước qua năm mới, mới mừng à
                                       Khuyến khích dân tầm đạo Thích ca
                                       Tự giác, giác tha ta phải nói
                                        Hỡi người dương thế bớt xa hoa

Bày tỏ nỗi cảm hoài với thế đạo, với dân tộc hay tính nhập thế của thơ ca tôn giáo cũng là một nét đáng kể. Đạo pháp gắn liền với dân tộc  là nét chung của nhiều bài thơ có nội dung này. Chẳng hạn như :
                                    Đâu là ái quốc với yêu đời
                                    Phổ cứu cho rồi mới thảnh thơi
Hay những bài thơ bày tỏ trực tiếp nỗi lòng trước tình cảnh vong quốc :
Mì kia gốc phải nước mình không?
Nghe thấy rao mì cũng động lòng
Chiếc bánh não nùng mùi  khách lạ
Bát cơm đau đớn máu cha ông
Văn minh những vỏ trưng ba mặt
Thấm thía tim gan ứa mấy dòng
Nhớ lại bảy mươi năm trở ngược
Say mì lắm kẻ bán non sông
Ngoài ra, tính nhập thế  cao độ còn thể hiện trong bài thơ Khuyến nông ra đời vào năm Ất Dậu 1945 khi cả miền Bắc đang lâm vào nạn đói:
                                       Cũng bởi  tại Tây di bày kế
                                       Phá hoại nền kinh tế nước ta
                                        Làm cho điên đảo sơn hà
                                     Làm cho điêu đứng con nhà Lạc Long
                                    …Muốn cứu khỏi tai nàn của nước
                                        No dạ dày là chước đầu tiên
                                        Nam kỳ đâu phải sống riêng
                                     Mà còn cung cấp cho miền Bắc, Trung….
Ngoài ra còn một số bài thơ bày tỏ quan niệm về tính chất vị nhân sinh của nền thơ ca chân chính, mà nổi tiếng nhất là bài thơ Tặng thi sĩ Việt Châu (một nhà thơ mới có tiếng về thơ lãng mạn lúc bấy giờ)
                             …Quen thói viết thơ sầu thơ cảm
                                    Không dìu dân hắc ám qua truông
                                          Ngâm nga giọng quá u buồn
                                      Làm cho độc giả quay cuồng mê ly
                                          Theo dõi gót từ bi mấy bữa
                                      Phàm tâm kia đã rửa hay chăng
                                           Đương cơn sóng dậy đất bằng
                                        Thi nhân đứng ngó để tăng sĩ làm…                                                                                            ( Các bài thơ trên đều của Huỳnh Giáo Chủ).

 Trong mảng thơ ca này, ta cũng lại thấy sự hiện diện của các thể thơ truyền thống Việt Nam như Lục bát, Song thất lục bát, thất ngôn…Tuy nhiên, đây là những bài thơ chủ yếu để thể hiện sở đắc về Phật pháp, bày tỏ tinh thần, ý chí, nỗi lòng…chứ không phải để ngâm nga diễn xướng nên còn hiện diện thêm thể thơ Đường luật , thất ngôn bát cú hoặc thất ngôn tứ tuyệt. Ngoại lệ, còn có vài bài viết theo kiểu thơ bảy chữ hiện đại. 

Tính nhập thế cao đã làm nên nét gần gũi giữa thơ ca tôn giáo với thơ ca yêu nước tại Nam bộ thời kỳ  nửa đầu thế kỷ XX. Nói cách khác, thơ ca Phật giáo tại Nam bộ, dù thuộc dòng Thiền tông hay Phật giáo dân gian chịu ảnh hưởng Tịnh độ tông, đã nối tiếp truyền thống gắn bó chặt chẽ giữa đạo pháp và dân tộc của thơ ca Phật giáo Việt Nam.


Tài liệu tham khảo:
1.      Thiền sư Việt Nam, Thích Thanh Từ, Thành hội Phật giáo tp HCM 1992
2.      Thất Sơn mầu nhiệm, Nguyễn Văn Hầu, Từ Tâm xuất bản, 1972
3.      Sấm truyền Đức Phật thầy Tây An, Nguyễn Văn Hầu phiên âm, chú thích. Ban quản tự Tòng Sơn cổ tự, Ban chẩn tế giáo hội Phật giáo Hòa Hảo xuất bản 1973.
4.      Sấm giảng thi văn giáo lý của Đức Huỳnh giáo chủ, Phật giáo Hòa Hảo, không ghi năm xuất bản.
5.      Tìm hiểu đặc trưng di sản văn hóa, văn nghệ dân gian Nam bộ, Hội văn nghệ dân gian Việt Nam và trường Đại Học Cần Thơ, nhà xuất bản Khoa học xã hội  xuất bản 2004.
6.      Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến 1884, Nguyễn Phan Quang, Nguyễn Xuân Đàn, NXB tp HCM 2000. 

 TS. Lê Ngọc Thúy
                                                                                    (Đại học Cần Thơ)

“Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam” giúp nhận thức đúng về cội nguồn và lịch sử phát triển vùng đất cực Nam của Tổ quốc

“Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam” giúp nhận thức đúng về cội nguồn và lịch sử phát triển vùng đất cực Nam của Tổ quốcBộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam, 2007

Từ lâu, vùng đất Nam Bộ đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, nhưng do hạn chế về tư liệu nên nhiều vấn đề còn đang thảo luận, ở trong nước còn quá ít sách viết về lịch sử vùng đất này, sách giáo khoa phổ thông thì gần như không đề cập đến. Tình trạng đó đã tạo nên một khoảng trống trong nhận thức của nhân dân và cán bộ về tính toàn bộ của lịch sử và văn hóa Việt Nam.
ể góp phần làm sáng tỏ thực tế về lịch sử vùng đất Nam Bộ và đáp ứng yêu cầu của nhiều bạn đọc, Hội khoa học lịch sử Việt Nam phối hợp với Nhà xuất bản thế giới cho xuất bản cuốn sách “ Lược sử vùng đất Nam Bộ  Việt Nam”. Cuốn sách đã nêu những chứng cứ lịch sử, cơ sở pháp lý để nhận thức đúng về cội nguồn và lịch sử phát triển vùng đất cực Nam của Tổ quốc. Trên cơ sở đó để giúp hiểu rõ hơn, sâu sắc hơn những vấn đề do lịch sử để lại nhằm đập tan những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc lịch sử của thế lực thù địch, đồng thời xây đắp thêm tình yêu quê hương đất nước. Ban biên soạn gồm những nhà khoa học đã từng nhiều năm quan tâm nghiên cứu vùng đất này do GS TSKH Vũ Minh Giang làm chủ biên. Nhóm tác giả biên soạn trên cơ sở tổng hợp các kết quả nghiên cứu của nhiều ngành khoa học liên quan như sử học, khảo cổ học,dân tộc học, văn hoá học, luật học…ở trong nước và ngoài nước. Cuốn sách trình bày một cách khách quan, có hệ thống, đơn giản và cô đọng những tư liệu, chứng cứ cơ bản về lịch sử phát triển của vùng đất Nam Bộ.
Cuốn sách không đi sâu vào thời tiền sử khi con người xuất hiện trên vùng đất Nam Bộ, mà chủ yếu bắt đầu từ văn hoá Óc Eo và nước Phù Nam tức là từ khi Nhà nước đầu tiên ra đời trên vùng đất này vào đầu Công nguyên. Tiếp theo, cuốn sách trình bày quá trình lịch sử sau khi nước Phù Nam suy sụp, vùng đất Nam Bộ thuộc lãnh thổ nước Chân Lạp từ thế kỷ thứ VII cho đến thế kỷ thứ XVI, rồi từ thế kỷ thứ XVII khi những nông dân người Việt, người Hoa vào khai phá lập nghiệp. Từ đây, một mặt cư dân bản địa người Khmer, người Chăm và một số tộc người thiểu số khác cùng người Việt, người Hoa mở rộng công cuộc khẩn hoang, phát triển kinh tế, mặt khác là quan hệ giữa chính quyền Chúa Nguyễn ở Đàng Trong với vương triều Chân Lạp diễn ra trong bối cảnh Chân Lạp suy yếu dần và đang bị vương triều Ayuthaya của Xiêm La đe doạ. Chính trong điều kiện đó, Chính quyền chúa Nguyễn càng ngày càng chiếm ưu thế và từng bước xây dựng chính quyền, xác lập chủ quyền trên vùng đất Nam Bộ. Đến giữa thế kỷ thứ XVIII, toàn bộ vùng đất Nam Bộ đã hoàn toàn thuộc về lãnh thổ và chủ quyền của Chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Từ khi triều Nguyễn thành lập vào đầu thế kỷ XIX, vùng đất Nam Bộ là bộ phận của nước Việt Nam thống nhất từ Bắc đến Nam. Trong suốt quá trình lịch sử đó, cộng đồng cư dân các dân tộc trên đất Nam Bộ càng ngày càng gắn bó với nhau trong vận mệnh chung của quê hương và đất nước, trong nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ vùng đất Nam Bộ.
Cùng với lịch sử phát triển vùng đất Nam Bộ, cuốn sách giới thiệu một số văn bản pháp lý ký kết giữa An Nam ( Việt Nam) với Cao Miên ( Campuchia) và Xiêm La ( Thái Lan) giữa thế kỷ XIX, những hiệp ước ký kết giữa đại diện của triều Nguyễn với đại diện của quân đội Pháp cuối thế kỷ XIX, cho đến các văn bản pháp lý ký kết giữa Pháp với Campuchia về hoạch định, phân giới, cắm mốc biên giới giữa Nam Kỳ với Campuchia, Hiệp ước Ê-ly-dê (Élysée) năm 1949 Chính phủ Pháp trao trả đất Nam Kỳ cho Việt Nam rồi Hiệp định Giơ – ne- vơ năm 1954, Hiệp định Pari năm 1973 và các Hiệp ước ký kết giữa Chính phủ CHXHCN Việt Nam với nước Cộng hoà nhân dân Capuchia năm 1979, 1983, 1985, 2005 xác định nguyên tắc và hoạch định biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Campuchia đã trở thành đường biên giới hoà bình, hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân hai nước láng giềng.
Trên cơ sở thực tế lịch sử và các văn bản pháp lý mang tính quốc tế, Nam Bộ là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam. Cuốn sách dành một phần thích đáng trình bày về cuộc sống của cộng đồng cư dân Nam Bộ và mối quan hệ đoàn kết, giao thoa văn hoá mật thiết giữa các dân tộc Việt, Khmer, Hoa, Chăm cùng các dân tộc thiểu số khác và những nét đặc trưng của không gian lịch sử, văn hoá Nam Bộ. Các tác giả nhấn mạnh truyền thống đoàn kết dân tộc của cộng đồng các dân tộc ở Nam Bộ trong lao động sáng tạo phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như trong đấu tranh kiên cường, bất khuất bảo vệ độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam.
Cuốn sách có phần phụ lục gồm bản biên niên một số sự kiện chính và toàn văn hoặc trích lục những văn bản lịch sử và pháp lý liên quan đến những nội dung đã được phân tích trong cuốn sách.
Trình bày dưới dạng giản lược và phổ cập, cuốn sách sẽ đáp ứng được yêu cầu tìm hiểu lịch sử vùng đất Nam Bộ của đông đảo bạn đọc và phần nào cung cấp tư liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu.

 Vũ Xuân Bân